Coronavirus

Nguồn gốc 

2019-nCoV là một betacoronavirus, giống như MERS và SARS. Nhiều điều chưa biết về cách lây lan của 2019-nCoV. Kiến thức hiện tại phần lớn dựa trên những gì đã biết về các coronavirus tương tự.

Coronavirus là một họ virus lớn, phổ biến ở nhiều loài động vật khác nhau, bao gồm lạc đà, gia súc, mèo và dơi. Hiếm khi, coronavirus động vật có thể lây nhiễm cho người và sau đó lây lan giữa những người như với MERS, SARS và bây giờ với 2019-nCoV.

Các quan chức Trung Quốc báo cáo rằng sự lây lan từ người sang người được duy trì trong cộng đồng đang xảy ra ở Trung Quốc. Sự lây lan từ người sang người đã được báo cáo bên ngoài Trung Quốc, bao gồm cả ở Hoa Kỳ và các quốc gia khác. Ngoài ra, các trường hợp lây truyền không có triệu chứng của virus được báo cáo.

Virus corona được xác định lần đầu tiên vào những năm 1960. Một số loại coronavirus gây bệnh nghiêm trọng. 

Hội chứng suy hô hấp Trung Đông (MERS) xuất hiện lần đầu tiên vào năm 2012 tại Ả Rập Saudi và sau đó ở các quốc gia khác ở Trung Đông, Châu Phi, Châu Á và Châu Âu làm 858 người tử vong . Vào tháng 4 năm 2014, người Mỹ đầu tiên nhập viện vì MERS ở Indiana và một trường hợp khác đã được báo cáo ở Florida. Cả hai vừa trở về từ Ả Rập Saudi. Vào tháng 5 năm 2015, đợt bùng phát MERS tại Hàn Quốc, đây là ổ dịch lớn nhất bên ngoài bán đảo Ả Rập. 

Năm 2003, hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS) làm 774 người tử vong. Kể từ năm 2015, không có báo cáo nào thêm về các trường hợp SARS.

Đầu năm nay 2020, sau khi bùng phát vào tháng 12 năm 2019 tại Trung Quốc, Tổ chức Y tế Thế giới đã xác định một loại coronavirus mới, 2019 (2019-nCoV).

Đường lây nhiễm

Lây truyền từ người sang người do tiếp xúc gần (khoảng gần 2 mét). 

Lây truyền từ người sang người qua các giọt hô hấp được tạo ra khi người nhiễm bệnh ho hoặc hắt hơi. Những giọt này có thể rơi vào miệng hoặc mũi của những người ở gần hoặc có thể được hít vào phổi. 

Lây truyền có thể do chạm vào bề mặt hoặc vật có virus trên đó và sau đó chạm vào miệng, mũi hoặc có thể vào mắt.

Hiện nay tìm được ARN trong phân của người bị nhiễm coronavirus, tuy nhiên chưa có khẳng định bệnh lây nhiễm qua đường tiêu hóa hay không.

Triệu chứng 

Các triệu chứng của hầu hết các coronavirus tương tự như bất kỳ bệnh nhiễm trùng đường hô hấp trên. Trong hầu hết các trường hợp, bạn sẽ không biết mình bị nhiễm coronavirus hay một loại virus gây cảm lạnh khác.

Đối với những trường hợp nhiễm 2019-nCoV các triệu chứng bệnh từ ít hoặc không có triệu chứng nào cho những người bị bệnh nặng và tử vong. Các triệu chứng có thể bao gồm: hắt hơi, chảy mũi, ho, khó thở

Theo CDC tại thời điểm này, các triệu chứng của 2019-nCoV có thể xuất hiện sau ít nhất 2 ngày đến 14 ngày kể từ khi tiếp xúc.

Bệnh thường nặng ở những người có bệnh lý tim mạch, suy giảm miễn dịch hoặc bệnh mạn tính.

Cách điều trị

Hiện tại chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.

Điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng và biến chứng

Nâng cao thể trạng

Bác sĩ tại Thái Lan có đưa ra việc áp dụng điều trị thuốc kháng virus (các thuốc điều trị cho bệnh nhân HIV) đã bước đầu cho thấy có hiệu quả. 

Cách phòng bệnh

Điều quan trọng nhất các nhà nghiên cứu vẫn đang cố gắng tìm ra những cách lây truyền của loại coronavirus mới này.

Làm thế nào bạn có thể giúp ngăn chặn sự lây lan của vi-rút

Mọi người nên thực hành vệ sinh tốt và các biện pháp để bảo vệ chống bị lây nhiễm.

Vệ sinh tốt bao gồm:

Rửa tay kỹ thường xuyên trong ngày.

Sử dụng khăn giấy và che miệng khi bạn ho hoặc hắt hơi.

Tránh chạm vào mắt, mũi và miệng bằng tay không rửa sạch.

Đeo khẩu trang đúng cách, đặc biệt bắt buộc với người nhiễm bệnh và người chăm bệnh nhân.

Tránh tiếp xúc với những người bị bệnh.

Vaccine 

Hiện nay đang các tổ chức các nhà khoa học trên thế giới nỗ lực tìm và thử nghiệm vaccine chống Coronavirus 2019 Vũ Hán

Tiêm phòng vaccine lần đầu cho trẻ bố mẹ cần biết

Tiêm vắc xin lần đầu cho trẻ đôi khi có một số vấn đề xảy ra, việc hiểu biết và cách sử trí cho trẻ là vô cùng quan trọng  

Trong vòng 6 tháng từ lúc sinh bé sẽ được tiêm phòng 6 lần

Những vaccine này sẽ bảo vệ em bé khỏi 8 bệnh nguy hiểm.

Em bé sẽ được tiêm vaccine để phòng: bạch hầu, ho gà, uốn ván, rotavirus, viêm gan B, bại liệt, Hib và phế cầu.

Những vaccine này có thể và riêng biệt hoặc kết hợp vào một mũi tiêm (ví dụ như: bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt viêm gan B, Hib).  Vaccine kết hợp này cũng an toàn và hiệu quả như vaccine đơn lẻ.  

Những vaccine này có thể sử dụng một lần kết hợp nhau mà không gây hại cho trẻ.

Các thông tin về vaccine sẽ giúp bạn biết về lợi ích cũng như nguy cơ của tiêm phòng, đồng thời nó cũng có các thông báo về tác dụng phụ của vaccine.

Hãy đọc các thông tin này trước khi cho trẻ đi tiêm phòng, và mang nó về nhà sau đó. Nếu bạn có câu hỏi hãy hỏi bác sĩ, nhân viên y tế. 

Lợi ích của vaccine: Tại sao phải cho trẻ tiêm vaccine

Tiêm vaccine sẽ giúp bảo vệ trẻ khỏi 8 căn bệnh nguy hiểm gây ra bởi virus và vi khuẩn. Những bệnh này đã làm tổn thương và giết rất nhiều trẻ em (cũng như người lớn) trong những năm trước khi chưa có vaccine. Virus bại liệt gây ra liệt khoảng 37.000 người và giết khoảng 1700 người mỗi năm trong những trong những năm 1950 trước khi có vaccine. Vào những năm 1980s, bệnh do Hib là nguyên nhân gây viêm màng não mủ ở trẻ dưới 5 tuổi. Khoảng 15.000 người mỗi năm chết vì bạch hầu trước khi có vaccine. Hầu hết trẻ bị ít nhất một lần nhiễm Rotavirus cho đến lúc 5 tuổi.

Không có một bệnh nào trong số những bệnh trên hoàn toàn biến mất. Không có vaccine chúng ta sẽ quay trở lại thời kỳ tăm tối bệnh dịch. Điều này đã xảy ra trong một phần của thế giới.

8 loại bệnh có thể ngăn ngừa bằng vắc xin

Bạch hầu

Bệnh bạch hầu do vi khuẩn bạch hầu gây nên

Bạn có thể bị lây nhiễm qua được tiếp xúc với người bị nhiễm bệnh.

Dấu hiệu và triệu chứng: tạo màng dầy phủ kín thành họng làm cho bạn khó thở.

Nó dẫn đến khó thở, suy tim và tử vong.

Uốn ván (cứng hàm)

Bệnh do vi khuẩn uốn ván.

Bạn có thể bị nhiễm thông qua vết thương hở. Nó không lây từ người này sang người khác.

Dấu hiệu và triệu chứng: bao gồm đau cơ do co cứng cơ, có thể toàn thân.

Nó có thể dẫn đến cứng hàm, do đó bệnh nhân không thể nuốt được. Tử vong 1 trong 5 trường hợp.

Ho gà 

Do vi khuẩn ho gà.

Bạn có thể bị lây do tiếp xúc người bị nhiễm.

Dấu hiệu và triệu chứng: Ho từng cơn nặng làm cho trẻ khó ăn, uống và khó thở. Cơn ho này có thể kéo dài vài tuần.

Nó có thể dẫn đến viêm phổi, co giật, tổn thương não và tử vong.

HIB 

Do vi khuẩn Haemophilus Influenza type B.

Bạn có thể bị lây do tiếp xúc với người bị nhiễm.

Dấu hiệu và triệu chứng: có thể không có triệu chứng trong trường hợp nhẹ.

Nó có thể gây viêm màng não, viêm phổi, nhiễm trùng huyết, viêm khớp, viêm tim, tổn thương não, điếc và có thể tử vong.

Viêm gan B

Bạn có thể bị nhiễm virus viêm gan B do tiếp xúc với máu hoặc là dịch của người bị nhiễm.

Em bé có thể bị nhiễm từ giai đoạn sơ sinh nếu như mẹ bị nhiễm virus viêm gan B. Người lớn cũng có thể nhiễm do quan quan hệ tình dục hoặc là dùng chung bơm kim tiêm hoặc là tiếp xúc với máu bị nhiễm virus viêm gan B.

Dấu hiệu và triệu chứng bao gồm: mệt mỏi, tiêu chảy, buồn nôn, vàng da, đau cơ, đau khớp và viêm dạ dày có thể dẫn đến làm tổn thương gan, ung thư gan và tử vong

Bại liệt

Do virus bại liệt gây nên.

Bé có thể bị nhiễm do tiếp xúc trực tiếp với người bị nhiễm virus bại liệt. Virus có thể vào cơ thể qua đường miệng.

Dấu hiệu và triệu chứng bao gồm: các dấu hiệu giống như cảm lạnh, hoặc  không có dấu hiệu và triệu chứng.

Nhiễm virus bại liệt có thể gây ra liệt hoặc là tử vong nếu liệt cơ hô hấp.

Phế cầu

Do vi khuẩn Phế cầu gây ra

Bé có thể bị lây do tiếp xúc với người bị nhiễm bị nhiễm phế cầu.

Dấu hiệu và triệu chứng bao gồm: sốt, rét run, ho và đau ngực.

Nhiễm phế cầu có thể dẫn đến viêm màng não,nhiễm trùng huyết, viêm tai, viêm phổi, điếc tổn thương não và tử vong

Rotavirus

Bé có thể bị lây nhiễm do tiếp xúc với những trẻ mà đã bị nhiễm Rotavirus.

Dấu hiệu và triệu chứng bao gồm: tiêu chảy, buồn nôn và sốt.

Nhiễm Rotavirus có thể dẫn đến mất nước nặng phải nhập viện.

Vaccin hoạt động thế nào?

Miễn dịch từ nhiễm bệnh: khi em bé bị mắc một trong các bệnh trên, hệ thống miễn dịch của cơ thể sẽ sản xuất kháng thể đáp ứng miễn dịch và giúp cho em bé không bị mắc lại bệnh đó nữa. Nhưng nếu như bị mắc thì vô cùng nguy hiểm.

Miễn dịch từ vaccine: vaccine được sản xuất từ các từ các vi khuẩn và virus nhưng đã được giảm động lực or làm chết đi để không có khả năng gây bệnh, an toàn cho trẻ và tạo ra đáp ứng miễn dịch với vaccin đó.

Lịch tiêm phòng vaccine

Nguy cơ của vaccine

Vaccine có thể gây ra các tác dụng phụ giống như các thuốc khác. Phần lớn phản ứng nhẹ tại chỗ như sưng, nóng, đỏ, đôi khi sốt nhẹ. Triệu chứng này xảy ra ở 1 trong số 4 trẻ tiêm vaccine. Nó xuất hiện ngay sau tiêm và phút đến vài giờ và có thể mất đi trong vòng 1 đến 2 ngày.

Phản ứng nặng hơn có thể xảy ra, nhưng ít hơn nhiều. Một số phản ứng không phổ biến mà các chuyên gia cũng không thể khẳng định do vaccine hay không?

Trong số phản ứng nặng với vaccin nhất là phản ứng dị ứng nặng với các thành phần của vaccine. Những phản ứng này thường vô cùng hiếm – khoảng 1/1000000 mũi tiêm. Phản ứng này thường xảy ra ngay sau khi tiêm. Nhân viên y tế được đào tạo để xử lý các vấn đề này.

Nguy cơ của bất cứ vaccine nào gây nên các phản ứng nguy hiểm thậm chí có thể tử vong vô cùng hiếm. Bị mắc bệnh còn hại hơn được tiêm vaccine nhiều lần. 

Các phản ứng khác

Các tình trạng dưới đây có liên quan đến quá trình tiêm vaccine. Nghĩa của từ “liên quan” ở đây chúng tôi muốn nói rằng nó xảy ra nhiều hơn ở trẻ tiêm vaccine so với trẻ không tiêm vaccine. Liên quan này không được chứng minh có phải phản ứng do vaccine hay không, nhưng cũng có thể.

Bạch hầu ho gà uốn ván

Phản ứng nhẹ: trẻ quấy khóc (⅓ ),  trẻ mệt mỏi kém ăn (1/10); nôn (1/50); sưng nề tay chân trong khoảng 7 đến 7 ngày (1/30) – thường là sau liều tiêm thứ 4- thứ 5. 

Phản ứng trung bình: co giật nhẹ (1 trong số 14000 trẻ),hoặc khóc không thể dỗ được trên 3 tiếng (1 trong số 1.000 trẻ) hoặc là sốt trên 39 độ (1 trong số 16000 trẻ) 

Phản ứng nghiêm trọng: co giật kéo dài, hôn mê hoặc giảm ý thức, và  tổn thương não vĩnh viễn đã được báo cáo sau khi tiêm bạch hầu ho gà uốn ván. Các phản ứng đó vô cùng hiếm chúng tôi không thể khẳng định do vaccine.

Vaccine bại liệt/ viêm gan B/ Hib 

các vaccine này chủ yếu là phản ứng tại chỗ

Vaccine phế cầu

Phản ứng nhẹ: trong các nghiên cứu về vaccine, một số trẻ quấy khóc, lơ mơ hoặc là kém ăn.

Vaccine Rotavirus

Phản ứng nhẹ: trẻ có thể bị nhiễm Rotavirus ở mức độ nhẹ hơn những trẻ khác, triệu chứng như kích thích, tiêu chảy, sốt và nôn. Các triệu chứng này có thể xảy ra trong tuần đầu tiên sau khi sử dụng vaccine Rotavirus. Vaccine Rotavirus dường như không gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng nào.

Thận trọng

Nếu bé bị ốm vào ngày lịch tiêm vaccine, chúng ta nên không tiêm cho bé. Chờ khi em bé khỏi ốm mới tiêm phòng. 

Một số bé không nên tiêm một số vaccine nhất định. Hãy nói chuyện với nhân viên y tế tiêm phòng cho con nếu em bé có thấy phản ứng nghiêm trọng sau khi tiêm vaccine lần trước, hoặc có bất kỳ phản ứng dị ứng mà nguy hiểm đến tính mạng. (những phản ứng và dị ứng này rất hiếm).

Nếu em bé có bất kỳ phản ứng nào ở lần tiêm phòng bạch hầu ho gà uốn ván trước:

Bị bệnh về não hoặc hệ thần kinh trong vòng 7 ngày.

Khóc không thể nín 3 giờ hoặc hơn.

Có các dấu hiệu co giật.

Sốt rất cao.

Hãy nói với nhân viên y tế tiêm phòng trước khi con tiêm vaccine bạch hầu ho gà uốn ván.

Nếu em bé có:

Phản dị ứng nguy hiểm đến tính mạng với kháng sinh neomycine, streptomycine, hoặc polymyxin B.

Hãy nói với nhân viên y tế tiêm phòng trước khi tiêm vaccin bại liệt.

Nếu em bé có:

Phản dị ứng nguy hiểm đến tính mạng với nấm men

Hãy nói với nhân viên y tế tiêm phòng trước khi tiêm vaccin viêm gan B.

Nếu em bé có:

Hệ thống miễn dịch yếu.

Bệnh lý về tiêu hóa mãn tính.

Gần đây phải truyền máu hoặc là các thể chế phẩm khác thì máu hoặc là đã từng bị lồng ruột. Hãy nói với nhân viên y tế tiêm phòng trước khi cho uống vaccine Rotavirus.

Nếu như em bé của tôi có phản ứng nặng hoặc vừa

Tôi nên theo dõi gì?

Nên chú ý xem có các dấu hiệu bất thường như: phản ứng dị ứng nặng, sốt cao, yếu cơ, hoặc hành vi bất thường. 

Các phản ứng dị ứng nặng vô cùng hiếm với bất kỳ vaccine nào. Nếu như một khi xảy ra thì phản ứng sẽ thì xuất hiện trong vòng một vài phút hoặc vài giờ sau khi tiêm.

Các dấu hiệu và triệu chứng của phản ứng dị ứng nghiêm trọng bao gồm:

  • Khó thở, 
  • Khò khè  hoặc khàn tiếng.
  • Viêm họng
  • Yếu cơ
  • Chóng mặt
  • Nhịp tim nhanh 
  • Xanh tái
  • Phát ban

Tôi phải làm gì lúc đó?

  • Hãy gọi cho bác sĩ và đưa trẻ tới bác sĩ ngay lập tức.
  • Hãy nói cho bác sĩ: những gì đã xảy ra, thời gian xảy ra, thời điểm tiêm vaccine.
  • Hãy yêu cầu các nhân viên y tế báo cáo thông báo về phản ứng bất lợi của vaccine lên hệ thống hoặc bạn gửi lên website.